Nghệ An 24h

http://nghean24h.vn


Từ 18-5, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư trong một số trường hợp

Quy định mới cho phép chủ tịch UBND cấp xã áp dụng các biện pháp xử lý hành chính như đình chỉ hoạt động hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề luật sư trong một số trường hợp nhất định.

 Điều 8 Nghị định 109 năm 2026 quy định về các hành vi vi phạm đối với hoạt động hành nghề luật sư - Ảnh minh họa: AI

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 109/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Nghị định này có hiệu lực từ 18-5, thay thế toàn bộ Nghị định 82/2020.

Thẩm quyền của chủ tịch UBND cấp xã, tỉnh đối với luật sư

Nghị định mới này có những thay đổi đáng chú ý về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, đặc biệt là ở cấp cơ sở.

Đáng chú ý, Điều 84 nêu rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chủ tịch UBND các cấp.

Cụ thể, chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; phạt tiền đến 25 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...

Trong khi đó, chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 30 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; phạt tiền đến 40 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; phạt tiền đến 50 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Đáng chú ý, chủ tịch UBND cấp xã và chủ tịch UBND cấp tỉnh đều có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Như vậy, theo quy định mới, trong một số trường hợp, chủ tịch UBND cấp xã và chủ tịch UBND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư trong thời hạn quy định.

Mức phạt cụ thể với từng hành vi vi phạm hoạt động hành nghề luật sư

Điều 8 Nghị định 109 năm 2026 quy định về các hành vi vi phạm đối với hoạt động hành nghề luật sư, theo đó mức phạt tiền từ 1-40 triệu đồng. Cụ thể như sau:

Phạt tiền từ 1-3 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

Không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ.

Thông báo không đúng thời hạn cho Đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề.

Phạt tiền từ 3-7 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

Thông báo không đầy đủ cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý.

Không đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hành nghề với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không thông báo cho Đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề.

Phạt tiền từ 7-10 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

Cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ngoài cơ quan, tổ chức mà luật sư đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.

Thành lập hoặc tham gia thành lập từ hai tổ chức hành nghề luật sư trở lên.

Làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức khác bằng hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngoài tổ chức hành nghề luật sư mà luật sư đã thành lập, tham gia thành lập hoặc đã ký hợp đồng lao động.

Hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định.

Hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận.

Không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý.

Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc không có văn bản ủy quyền của tổ chức hành nghề luật sư.

Hành nghề khi chưa được cấp giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc vẫn hành nghề khi đã bị thu hồi giấy đăng ký hành nghề luật sư. 

Phạt tiền từ 10-15 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, văn bản thông báo về việc đăng ký bào chữa, thông báo về việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Hành nghề tại Việt Nam khi giấy phép hành nghề của luật sư nước ngoài đã hết hạn.

Hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không đăng ký hành nghề tại cơ quan có thẩm quyền.

Phạt tiền từ 15-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

Hoạt động không đúng phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

Cho người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam để hành nghề luật sư.

Sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc sử dụng giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam của người khác để hành nghề luật sư.

Phạt tiền từ 15-30 triệu đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

Hành nghề luật sư khi không có chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc chưa gia nhập Đoàn luật sư.

Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng hoặc treo biển hiệu khi tổ chức hành nghề luật sư do mình thành lập hoặc tham gia thành lập chưa được đăng ký hoạt động.

Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.

Sách nhiễu khách hàng; nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; lừa dối khách hàng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành nghề luật sư tại Việt Nam trong trường hợp không đủ điều kiện hành nghề; chưa được cấp giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam hoặc vẫn hành nghề khi đã bị tước quyền sử dụng giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam.

Ứng xử, phát ngôn hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt tiền từ 30-40 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

Cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật.

Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo trái pháp luật.

Tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.

Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc.

Tham gia lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người để gây rối trật tự công cộng, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cung cấp dịch vụ pháp lý, hoạt động tư vấn pháp luật với danh nghĩa luật sư hoặc mạo danh luật sư để hành nghề luật sư; treo biển hiệu khi chưa được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc chưa gia nhập Đoàn luật sư.

Thực hiện hoạt động dịch vụ pháp lý khác không đúng theo quy định tại Điều 30 của Luật Luật sư.

Tác giả: Danh Trọng

Nguồn tin: Báo Tuổi trẻ