Toàn văn Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV
- 13:25 20-01-2026
- In ra
- Đóng cửa sổ này
![]() |
Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH |
Tại phiên khai mạc Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Tiểu ban Văn kiện, trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo:
BÁO CÁO VỀ CÁC VĂN KIỆN TRÌNH ĐẠI HỘI XIV ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,
Thưa các vị khách quý,
Thưa toàn thể các đồng chí đại biểu Đại hội,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt trọng đại của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới; là Đại hội của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên, của niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Đại hội XIV diễn ra trong thời điểm lịch sử có ý nghĩa sâu sắc: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết, thống nhất, quyết tâm vững bước tiến tới hai mục tiêu chiến lược: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2030) và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Từ đó đặt ra yêu cầu: Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; phải quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá, hiệu quả, vì một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hệ thống dự thảo các văn kiện trình Đại hội bao gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) và đề xuất, định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.
Trong đó, Dự thảo Báo cáo chính trị tích hợp đồng bộ 3 Báo cáo (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng) tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, rõ trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai.
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là "đột phá" so với các đại hội trước đây, chỉ rõ "chủ thể, lộ trình, nguồn lực, đích đến" để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.
Được sự ủy quyền của Hội nghị Trung ương 15 khóa XIII, Bộ Chính trị đề xuất Đại hội cho chủ trương Tổng kết 100 năm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2030) với cách mạng Việt Nam, định hướng phát triển đất nước của 100 năm tiếp theo (2030 - 2130); Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Quá trình chuẩn bị Văn kiện được tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học, hiện đại; kế thừa tinh hoa của các kỳ đại hội trước, kiên định các hệ quan điểm mang tính nguyên tắc, đồng thời thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển, bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan; từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều xuất phát từ thực tiễn.
Đặc biệt, Văn kiện lần này đặt ra yêu cầu hành động: Nói đi đôi với làm; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; gắn trách nhiệm với kết quả; gắn đột phá với bền vững; gắn kỷ luật thực thi với sự hài lòng của Nhân dân.
Trong quá trình hoàn thiện Văn kiện, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt coi trọng việc phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, lắng nghe sâu sắc tiếng nói của đảng viên, của Nhân dân, của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, đồng bào ta ở trong và ngoài nước.
Dự thảo các văn kiện đã được thảo luận rộng rãi trong toàn Đảng, công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, lấy ý kiến các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú.
Chỉ trong 1 tháng đã có gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên, Nhân dân đóng góp hơn 14 triệu lượt ý kiến gửi về các Tiểu ban Văn kiện, được chắt lọc, tiếp thu nghiêm túc, góp phần làm nên một Báo cáo chính trị là sự kết tinh trí tuệ, sức mạnh của Nhân dân, là sự hòa quyện giữa ý Đảng với lòng dân, thực sự là "ngọn đuốc soi đường", là "cẩm nang hành động" cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
![]() |
Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước tham dự phiên khai mạc - Ảnh: TTXVN |
Toàn văn các Báo cáo đã được gửi đến các đại biểu tham dự Đại hội. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, tôi xin báo cáo, nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm và điểm mới của dự thảo các văn kiện để Đại hội xem xét, thảo luận và cho ý kiến quyết định.
I- DẤU ẤN NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIII: NĂNG LỰC, BẢN LĨNH, KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG
Nhiệm kỳ Đại hội XIII diễn ra trong điều kiện đặc biệt, với nhiều khó khăn đan xen, nhiều thách thức chồng lấn. Đó là thiên tai, bão lũ, dịch bệnh; các rủi ro an ninh truyền thống và phi truyền thống; cạnh tranh chiến lược gay gắt; biến động, đứt gãy chuỗi cung ứng, năng lượng, lương thực; cùng với những vấn đề nội tại tích tụ qua nhiều năm.
Trong bối cảnh "lửa thử vàng, gian nan thử sức", Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu, tinh thần đoàn kết thống nhất; thể hiện ý chí, khát vọng phát triển, kiến tạo tương lai, tư duy đổi mới, hành động quyết liệt; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII với nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật, cơ bản hoàn thành các mục tiêu chủ yếu đề ra.
Nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giữ vững ổn định vĩ mô, duy trì được đà tăng trưởng khá; tiềm lực, sức chống chịu và khả năng thích ứng được nâng lên, tạo nền tảng và dư địa quan trọng phát triển nhanh và bền vững hơn trong giai đoạn tới.
Nhiều quyết sách chiến lược mang tính đột phá đã được triển khai quyết liệt. Đặc biệt, cuộc cách mạng về đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính đạt được các mục tiêu chiến lược, là bước chuyển quan trọng về tư duy quản trị quốc gia, mở ra không gian phát triển mới, vì tương lai lâu dài của đất nước.
Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, toàn diện, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, niềm tin của Nhân dân được củng cố, kỷ cương được tăng cường.
Phát triển con người, văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được cải thiện và không ngừng nâng cao. Sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy; đồng thuận xã hội được tăng cường, củng cố.
Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, môi trường hòa bình được giữ vững; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, nâng tầm, đi vào chiều sâu.
Vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đang là một điểm sáng được thế giới đánh giá cao về an toàn, ổn định xã hội; về đột phá tư duy, tầm nhìn, cách làm mới trong lãnh đạo và quản trị phát triển.
Kết quả toàn diện của nhiệm kỳ Đại hội XIII tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng. Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ngày càng được bồi đắp vững chắc, tạo tiền đề quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khí thế mới, quyết tâm mới và khát vọng mới.
Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước có được như ngày hôm nay là sự hội tụ, kết tinh truyền thống văn hóa hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là thành quả của 96 năm xây dựng và phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; là kết quả của 40 năm đổi mới; là quá trình liên tục đổi mới tư duy lãnh đạo trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; là sự hy sinh, quên mình của biết bao thế hệ chiến sĩ cách mạng tiền bối, các đảng viên cộng sản, của đồng bào, đồng chí đã tận tụy lao động sản xuất, anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là biểu hiện sinh động của ý chí bền bỉ, tinh thần sáng tạo, lòng yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam trong tiến trình phát triển.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII tiếp tục khẳng định bài học lớn: Trong "sóng to gió lớn", thậm chí là "bão táp", điều quyết định là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, là ý chí thống nhất, là sức mạnh đại đoàn kết, là phương pháp tổ chức thực hiện, là kỷ luật, kỷ cương và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân.
![]() |
Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng - Ảnh: TTXVN |
Chúng ta có quyền phấn khởi, tự hào về những kết quả quan trọng, nổi bật đã đạt được. Nhưng tự hào để thêm trách nhiệm, thêm động lực phấn đấu, tuyệt đối không được "ngủ quên bên vòng nguyệt quế".
Chúng ta đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém và những điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ: Từ bất cập về thể chế, nguồn lực, hạ tầng; hạn chế trong tổ chức thực hiện và kỷ luật, kỷ cương đến tình trạng một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; nhiều vấn đề xã hội, môi trường, đời sống dân sinh còn bức xúc...
Nhận diện đúng để có giải pháp đúng, hành động đúng. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là phải chuyển mạnh sang hành động, giải quyết có hiệu quả những hạn chế, điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển đất nước.
Nhìn lại 40 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII, chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại.
Đường lối đổi mới của chúng ta xác định rõ Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp cách mạng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhất quán xây dựng và hoàn thiện 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn lãnh đạo cách mạng qua bốn thập kỷ đổi mới, chúng ta đúc kết 5 bài học kinh nghiệm quý báu:
Thứ nhất, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển bền vững;
Không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Thứ hai, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả;
Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở gần dân, vì dân, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ. Đề cao trách nhiệm, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Thứ ba, quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm "Dân là gốc", phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hành "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.
Thứ tư, bám sát thực tiễn, dự báo đúng tình hình; phản ứng chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, phù hợp; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm; phân công, phân cấp, phân quyền rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả; kiểm tra, giám sát chặt chẽ; nâng cao chất lượng thể chế; tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ năm, không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược; nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; tôn trọng quy luật khách quan, phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ...
![]() |
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Đây là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới; là Đại hội của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên, của niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH |
II- NHỮNG CỐT LÕI TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN KIỆN: TINH THẦN CẦU THỊ, KHOA HỌC, HÀNH ĐỘNG
Thứ nhất: Trung thành tuyệt đối với đường lối, Cương lĩnh của Đảng, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc, thành quả, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên con đường xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai: Văn kiện lần này được xây dựng theo phương châm: Bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, kết tinh trí tuệ tập thể và phản ánh trung thực mong muốn, nguyện vọng của Nhân dân. Từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều được nghiên cứu kỹ, chắt lọc, xuất phát từ thực tiễn; coi hiệu quả và tính khả thi là tiêu chuẩn quan trọng.
Thứ ba: Văn kiện thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển: Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng; phát triển xanh, bền vững, hiệu quả; kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu bắt buộc; hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng suất lao động là thước đo chất lượng tăng trưởng.
Thứ tư: Văn kiện đặc biệt nhấn mạnh khâu tổ chức thực hiện. Nhiều chủ trương, quyết sách đúng sẽ vẫn "nằm trên giấy" nếu thực thi chậm, thực thi kém hiệu quả hoặc bị "lệch chuẩn" trong quá trình triển khai. Vì vậy, Văn kiện đặt trọng tâm vào việc thiết kế chương trình hành động, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả; coi dữ liệu, chỉ số và phản hồi của Nhân dân là một căn cứ quan trọng để điều chỉnh chính sách và xử lý trách nhiệm.
Thứ năm: Văn kiện đề cao tinh thần nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; nhấn mạnh yêu cầu giữ gìn kỷ luật của Đảng, kỷ cương phép nước; kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời, xây dựng môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, kiến tạo phát triển, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, xây dựng xã hội kỷ cương, lành mạnh, văn minh, an ninh, an sinh, an toàn, phát triển.
III- MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN 2026 - 2030 VÀ TẦM NHÌN 2045: KHÁT VỌNG LỚN, BƯỚC ĐI CHẮC
Phương châm "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển" của Đại hội là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh của trách nhiệm trước lịch sử. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức đồng lòng, quyết tâm đổi mới, hành động quyết liệt vì một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ đề Đại hội XIV đòi hỏi chúng ta phải đoàn kết hơn, kỷ luật hơn, sáng tạo hơn; đồng thời phải khiêm tốn học hỏi, biết lắng nghe, biết sửa mình để hoàn thiện và tiến bộ không ngừng. Đại hội XIV có trọng trách lịch sử xác lập những quyết sách mang tính "bệ phóng" để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.
Mục tiêu tổng quát là: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao;
Hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm.
Để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới, chúng ta xác định 5 quan điểm chỉ đạo lớn:
Thứ nhất: Kiên định hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới, không ngừng bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn; phát huy tự chủ chiến lược, xác lập mô hình phát triển mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững; nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai: Nhận diện sớm, tranh thủ mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức; kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các nhiệm vụ: Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.
Thứ ba: Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển.
Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững; tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt; khơi thông, giải phóng sức sản xuất và mọi nguồn lực. Xác lập mô hình tăng trưởng mới; thực hiện đồng bộ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, phát triển lực lượng sản xuất mới.
Thứ tư: Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập. Bảo đảm, bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.
Thứ năm: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; giữ vững đoàn kết, thống nhất; vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức bộ máy mới; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước; không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín.
Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
IV- TÁM NỘI DUNG XUYÊN SUỐT TẬP TRUNG TRIỂN KHAI CÁC QUYẾT SÁCH CHIẾN LƯỢC
Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, Báo cáo chính trị xác định 12 định hướng lớn; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Chương trình hành động đã cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay. Tinh thần cốt lõi được cô đọng trong 8 nội dung quan trọng, thể hiện rõ yêu cầu: Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả.
Thứ nhất: Hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Lấy thực thi làm thước đo.
Thể chế là "điểm nghẽn của điểm nghẽn" nhưng cũng là "đột phá của đột phá". Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ.
Kiên quyết xóa bỏ cơ chế "xin - cho", giảm tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh số hóa toàn diện, toàn trình, liên thông dữ liệu. Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.
Song song với cải cách, phải xây dựng kỷ luật pháp quyền và kỷ luật thực thi. Kiên quyết khắc phục bằng được tình trạng: "Luật thì đúng mà làm thì khó", "trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng", "trên nóng, dưới lạnh", "nói nhiều, làm ít", "quyết sách đúng nhưng thực thi chậm", gây lãng phí nguồn lực, làm giảm niềm tin của Nhân dân.
Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của Nhân dân.
Thứ hai: Xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Phát triển nhanh nhưng phải bền vững. Hoàn thiện quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lĩnh vực, quy hoạch địa phương. Coi trọng chất lượng tăng trưởng trên cơ sở xác lập tiêu chuẩn kỹ thuật cao, phù hợp chất lượng quốc tế.
Bảo đảm hạch toán kinh tế. Tăng trưởng phải dựa chủ yếu vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo; giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ. Phát triển đồng bộ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ theo chuỗi giá trị; hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu.
Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, các trung tâm dịch vụ, du lịch chất lượng cao; các trung tâm logistics lớn gắn với các cảng biển, cảng hàng không trung chuyển quốc tế, các cửa khẩu quốc tế lớn, hiện đại, tự động hóa cao; nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và chuỗi cung ứng trong những lĩnh vực trọng yếu.
Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng phải được triển khai quyết liệt, bài bản, gắn với an ninh năng lượng, an ninh môi trường và yêu cầu cạnh tranh. Phát triển kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên; thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn; chủ động thích ứng với các chuẩn mực mới của thương mại và đầu tư toàn cầu.
Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh; khuyến khích doanh nghiệp trong nước lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh quốc tế; đưa tri thức và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.
Thứ ba: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực trung tâm của phát triển.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới.
Tập trung phát triển công nghệ chiến lược. Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, trước hết là hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng, phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số; tạo môi trường thử nghiệm, khuyến khích đổi mới, bảo vệ sáng tạo.
Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; đưa khoa học công nghệ vào từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, từng doanh nghiệp.
Muốn đột phá về công nghệ, phải bắt đầu từ con người và cơ chế. Không thể chủ quan, duy ý chí. Phải có cơ chế trọng dụng nhân tài; cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm; cơ chế tài chính linh hoạt; cơ chế hợp tác công tư; cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học gắn với yêu cầu phát triển. Khoa học, công nghệ phải đi vào đời sống, phục vụ người dân, nâng năng suất lao động, giảm chi phí xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư: Văn hóa và con người: Nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển của đất nước.
Phát triển bền vững trước hết phải dựa vào con người và văn hóa. Cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật; tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, văn minh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng.
Chính sách xã hội phải hướng tới bao trùm, công bằng, hiệu quả, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội; đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển y tế, chú trọng chăm sóc sức khỏe nhân dân; giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng đời sống. Tăng trưởng kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, để đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, để xã hội thực sự hài hòa, dân chủ, để người dân tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ năm: Quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để phát triển. Phải tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; chủ động nắm chắc tình hình; nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa, xử lý kịp thời các tình huống; kiên quyết không để bị động, bất ngờ.
Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; kiên định độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tận dụng hiệu quả cơ hội hợp tác; đưa các quan hệ đối tác đi vào chiều sâu, thực chất; kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế; giữ vững nguyên tắc nhưng mềm dẻo, linh hoạt về sách lược.
An ninh trong giai đoạn mới không chỉ là an ninh biên giới, lãnh thổ; mà còn là an ninh chế độ, an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực... Vì vậy, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở, từ nơi xuất phát.
Thứ sáu: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; công tác cán bộ là "then chốt của then chốt".
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi. Phải nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên trì xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đ�



