Cuộc sống

Ai có nguy cơ cao về ung thư vú?

Vú là cơ quan sản sinh ra sữa giúp mẹ nuôi con. Sữa không chỉ đầy đủ chất dinh dưỡng mà còn mang kháng thể giúp cho con ngăn ngừa sớm một số bệnh truyền nhiễm.

Ảnh minh họa

Nguyên nhân của ung thư vú chưa được biết rõ. Nhưng với những nghiên cứu dịch tễ học, cùng với những hiểu biết sâu hơn về sinh học của tế bào tuyến vú các nhà khoa học đã có những cơ sở mới để khám phá về căn bệnh này. Theo Hiệp hội Phòng chống ung thư quốc tế (UICC) thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ.

Nguy cơ thấp bị ung thư vú ở các phụ nữ sau đây: tuổi 30-34, lần đầu có kinh - trước 14 tuổi, không dùng thuốc tránh thai, tuổi có con lần đầu - dưới 20, thời gian cho con bú - từ 16 tháng trở lên, số lần sinh con - từ 5 trở lên, tuổi khi cắt buồng trứng - dưới 35, tuổi mãn kinh - trên 45, chỉ số sinh khối cơ thể BMI - dưới 22,9; không có tiền sử gia đình có người bị ung thư vú, nồng độ estradiol trong máu thấp.

Nguy cơ cao bị ung thư vú ở các phụ nữ sau đây: tuổi 70-74, lần đầu có kinh - trước 12 tuổi, có dùng thuốc tránh thai, tuổi có con lần đầu - từ 30 trở lên, không cắt buồng trứng, tuổi mãn kinh - từ 55 trở lên, chỉ số sinh khối cơ thể BMI - trên 30,7; có tiền sử gia đình có người bị ung thư vú, nồng độ estradiol trong máu cao.

Chỉ số BMI (Body Mass Index) được tính bằng cách lấy cân nặng của người đó (kg) chia cho bình phương chiều cao (m).

Đa phần ung thư vú là do chính người bệnh phát hiện khi họ nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối u hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khoẻ thường kỳ. Cần phải nghi ngờ ung thư vú khi thấy bất kỳ có u nào ở vú tại các phụ nữ trên 30 tuổi, mặc dù khoảng 80% khối u bất thường ở vú là lành tính.

U ác tính thường cứng, không đau (khoảng 85-90%), không rõ bờ, dính vào thành ngực hoặc da trên vú, sờ thấy khó di động. Núm vú bị co kéo, chảy máu.

Tình trạng chậm trễ là khi ung thư đã tiến triển hoặc đã có di căn xa, tạo hạch nách hay hạch trên xương đòn, tràn dịch màng phổi làm bệnh nhân đau ngực và khó thở, tràn dịch màng ngoài tim làm cho bệnh nhân khó thở và suy hô hấp. Khi đã di căn vào xương gây gãy xương. Gan to, tạo báng bụng. Khi di căn lên não gây đau đầu, hôn mê, chèn ép cột sống, bệnh nân bị đau lưng, liệt chân tay…

Tác giả: GS.NGUYỄN LÂN DŨNG

Nguồn tin: Báo Nông nghiệp Việt Nam

BÀI MỚI ĐĂNG

TOP